Articles Comments

Văn Hóa Phật Giáo Tạp Chí Blog » Nghiên Cứu, Đồng Dưỡng » Về bài tế cô hồn văn

Về bài tế cô hồn văn

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo 134  |   ĐỒNG DƯỠNG  

Về bài tế cô hồnTrong một lần viếng thăm chùa Tế Xuyên, chúng tôi tìm được một tập sách gồm có một số văn bản như : Thiền lâm qui ước , Tam giáo nhất nguyên thuyết , Tiểu du -già thí thực pháp , Phóng sinh giới sát văn ; hầu hết đếu được viết bằng Hán Văn ; đâu đó có một vài bài chữ Nôm . Trong đó tác phầm Thiền lâm qui ước , Tiểu du-già thí thực pháp , Phóng sinh giới sát văn do Thiền sư Phúc Điến biên soạn . Còn Tam giáo nhất nguyên thuyết là của tác giả Trịnh Huệ được in lại năm Bính Tuất . Bản này di Tỳ-kheo Thanh Hòa trùng san , ván lưu tại chùa Hoa Lâm , Khê Hồi . Cả bốn bản đều được khắc in vào thời Nguyễn . Người đóng sách đã gộp chung vào thành một tập . Có điều bản Phóng sinh giới sát văn chỉ còn được năm tờ đầu , không còn được nguyên vẹn .

Trong số các tác phẩm đó , chúng tôi chú ý đến văn bản Tiểu du-già thí thực pháp . Đây là nghi quĩ dùng để cúng thí thực cho các loại cô hồn . Nghi quĩ này thuộc loại tiểu , tức được giản lược từ các đại khoa hoặc trung khoa nên công việc hành trì thích ứng với một thời gian không dài lắm . Trong khoa nghi có một bài văn Nôm đó là bài Tế cô hồn văn , tức bài văn tế cô hồn . Khi đối chiếu với một số bản Nôm khác thì thấy văn bản này được in lại hai lần , sau đó với khoảng cách thời gian không lâu cả hai bản in lại bài văn tế đã được GS . Hoàng Xuân Hãn công bố trong bài Lễ Vu Lan và bài văn tế cô hồn 1. Ông Hãn gọi bài văn tế đó là Mông sơn thí thực và chính ông đã phiên âm từ hai bản Ứng Phú dư biên tổng tập và Lễ tụng hành trì tập yếu chư nghi ( còn gọi là Nhật tụng chùa Yên Ninh ) . Gs Hãn đã lấy Nhậ tụng chùa Yên Ninh làm bản nền và bản Ứng phú dư biên dùng để khảo dị . Qua đối chiếu với bản chúng tôi mới phát hiện thì thấy bản Tiểu du-già thí thực pháp được khắc in trước có kết cấu chữ Nôm xưa hơn và đón nhận văn bản này do chính ngài Phúc Điền viết ra . Đây phải là điều hiển nhiên và ngài đã soạn thảo khoa nghi và tự mình đã viết ra bài văn Nôm để đọc lên khi hành lễ cho thấm đượm tình dân tộc . Sau đây chúng tôi xin giới thiệu vài nét về văn bản và phiên âm .

Tiểu Du-già thí thực pháp được in vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1846) do Giám tự chùa Liên Trì chép , ván để tại chùa Liên Trì Hải Hội , thôn Cựu Lâu , huyện Thọ Xương . Bài tựa chiếm hai tờ được ngài Phúc Điền viết vào năm Thiệu Trị thứ 4 ( 1843) . Văn bản gồm có 25 tờ , mỗi tờ hai trang , mỗi trang 7 dòng , mỗi dòng 17 chữ , chữ khắc rõ đẹp , bài Tế cô hồn bắt đầu từ tờ 22a6 đến tờ 24a4 , chiếm khỏang 2 tờ . Riêng bài văn này có kết cấu số dòng , số chữ khác với các trang thông thường ; mỗi tranhg 10 dòng , mỗi dòng 21 chữ , chữ khắc nhỏ hơn , đẹp , rõ ràng , dễ đọc . Văn bản có viết húy thử Thời , bên bộ Nhật bị bôi đen ; có thể khi khắc in chưa có lệnh kiêng húy chữ Thời , nhưng khi in ra lệnh kiêng húy đã được ban bố nên người dập đã bôi đen bộ Nhật của chữ Thời . Như thế văn bản đã được in ra trong giai đoạn vua Tự Đức .

Bản Tiểu Du-già thí thực pháp có ghi rõ do Phúc Điền soạn và hiển nhiên bài Tế cô hồn văn do Thanh Lịch soạn , nhưng giờ đây chúng ta phát hiện bài văn tế là Thiền sư Phúc Điền .

Hòa thượng Phúc Điền là một cao tăng uyên thâm trong Phật pháp . Sư quê thôn Trung Thịnh , xã Bạch Sam , huyện Sơn Minh , phủ Ứng Hòa , tỉnh Hà Nội , sinh tháng 7 năm Giáp Thìn ( 1784 ) . Ngài họ Vũ , không thấy ghi tên húy , có pháp danh là Tịch Tịch , tự là Mật Nhân , hiệu An Thiền , hiệu Phúc Điền Hòa thượng và đạo hiệu Thích Như Như .

Năm 12 tuổi , ngài xuất gia tại chùa Đại Bi (chùa Sét ), Thịnh Liệt với Thiền sư Viên Quang Hải Tiềm (1723-1798 ) là người cùng quê . Ở đây học tập chấp trì được ba năm thì tôn sư Hải Tiềm viên tịch . Ngài xin sang chùaPhúc Thung,NamDư cầu thụ giới Sa-di với Hòa thượng Từ Phong Hải Quýnh ban pháp danh Tịch Tịch . Không lâu Pháp sư Hải Quýnh viên tịch , ngài lo tròn hiếu sự . Năm 20 tuổi , ngài sang chùa Pháp Vân , xã Từ Ninh xin với Tổ Từ Quang Tịch Giảng ( 1755-1820 ) cầu thụ giới Tỳ-kheo Bồ-tát . Đến tháng năm năm Ất Mùi ( 1835 ) dưới triều Minh Mạng ngài phụng chỉ vào kinh đô Huế dự kỳ tuyển duyệt Tăng , được triều đình ban giới đao độ điệp , được sắc ban Phúc Điền hòa thượng . Trong thời gian vào Huế , ngài đã bỏ nhiều thời gian đến viếng thăm , tìm hiểu các ngôi chùa ở Trung và Nam , thu thập tư liệu về tình hình Phật giáo đương thời . Sau đó ngài đã biên tập vào các sách của mình ghi lại dấu ấn Phật giáo thời Nguyễn sơ .

Từ năm Minh Mệnh Canh Tý 1840 , ( Minh Mạng thứ 21 ) đến năm Canh Tuất 1850 ( Tự Đức thứ 4 ) Ngài liên tục trùng hưng khá nhiều ngôi chùa như chùa Đại Giác , chùa Thiên Ứng Phúc , chùa Đại Quang (1842 ), chùa Hoàng Vân , chùa Liên Trì ( 1845) chùa Báo Thiên ( 1846 ) và chùa Liên Phái ( 1850 ) . Ngài còn đứng ra in nhiều kinh sách tại các chùa . Phúc Điền còn là một tác gia lớn của văn học Phật giáo thời Nguyễn , ngài vừa biên soạn vừa biên dịch nhiều công trình lớn đương thời . Dấu ấn đó đã để lại trong các bản in và các tác phẩm mà chúng ta còn được biết đến . Năm Nhâm Tuất 1862 , ( Tự Đức thứ 16) m ngài viên tịch thọ 79 tuổi ; môn đồ lập pháp thờ ngài tại các chùa như Liên Phái , Bồ Sơn …

Một điếu cần thấy rõ là ba vị thiền sư Phúc Điền , Chính Đại và Thanh Lịch có mối quan hệ với nhau , Chính Đại có pháp danh Tâm Hội là đệ tử của Phúc Điền ; khi còn tu học tại Bồ Sơn , Tâm Hội đã từng làm chức thư ký . Sư là người tứng viết chữ trong Khóa hư tập . Sau đó , sư về trụ trì chùa Hưng Phúc xã Xuân Lôi , tổng Bất Phí , huyện Võ Giàng , tỉnh Bắc Ninh . Về đây , kế nghiệp thầy , sư đứng in nhiều sách như Phạm Võng lược sở , Tạp tiếu chư khoa , Ứng phó dư biên , Tam giáo chính độ , Cúng tổ sư khoa thông dụng …Do đó sư đưa bài Tế cô hồn văn vào tập Ứng phủ dư biên là để gìn giử tác phẩm của thầy mình .

Thanh Lịch Phổ Tiến ( 1825-1885) có đạo hiệu là Viên Giác luật sư , một vị cao tăng nổi tiếng thời Nguyễn , sư kiêm trụ trì hai chùa là Bồ Đà và Yên Ninh . Hai ngôi chùa đã khắc in rất nhiều bộ sách nổi tiếng như Viên Giác lược giải , Qiu nuyên trực chỉ , Tây phương hiệp luận , Dược Sư đề cương …Trong đó nổi trội là bộ Khóa hu lục , ván in lưu tại chùa Yên Ninh . Ngoài ra sư còn  tác giả của Giới đàn Tăng , Giới đàn Ni cùng bộ Lễ Tụng hành trì tập yếu chư nghi mà ta có nói trước . Khi Thanh Lịch trưởng thành thì Phúc Điền đã là vị trưởng lão nổi tiếng vùng Bắc Ninh . Có thể bản Du-già được in ấn khắp nơi ; nên sau này Thanh Lịch mới đưa bài văn Nôm vào bộ Nhật tụng của mình . Vì tính thông dụng của bài văn tế nên hai vị này khi cho khắc in vào tác phẩm mình đã tự ý sửa một số câu chữ cho thích hợp và không ghi lại tác giả bài văn tế , làm cho thế hệ sau tưởng nhầm là của hai ngài , thực chất bài văn tế do chính Hòa thượng Phúc Điến biên soạn .

Trong bài viết này , chúng tôi sử dụng ban văn bản là Tiểu Du-già thí thực khoa , Lễ tụng hành trì tập yếu chư nghi và Ứng phú dư biên . Bản Tiểu Du-già được chọn làm bản nền để phiên âm , còn hai bản kia dùng để khảo dị . Bản lễ tụng hành trì tập yếu chư nghi gọi là bản A , bản Ứng phú dư biên gọi là bản B để tiện ghi chú trong việc khảo dị . Sau đây là phần phiên âm , khảo dị , và chú thích của chúng tôi (2).

TẾ CÔ HỒN VĂN

Kim cứ Đại Nam quốc , …tỉnh …phủ …huyện …xã , kim hội chủ tín chủ đàn na chư nhân đẳng , cẩn dĩ kim ngân tài mã , trai cháo đẳng vật , cảm chiêu cáo vu :

Nam-mô U minh giáo chủ A-nan đà tôn Địa tạng vương Bồ-tát tòa hạ

Nam-mô Khải giáo A-nan đà tôn giả bệ hạ

Tiêu diện đại sỹ Bà-la-môn tiên ( 22b) nhân tiếp dẫn tây đông nam bắc tứ duy thượng hạ , cô hồn đẳng chúng lai phó đàn tiền thụ cam lộ vị( 3.)

Than rằng ! (4)

Thiện ác bởi lòng ;

Phật ma khắc giá .

Tử sinh hữu mệnh (5), sống chẳng hay nhẫn nhục từ bi ;

Nhân quả vì (6) người chết (7) cho phải luân hồi vất vả .

Nhờ ơn Đại sĩ được ăn ; nay cậy A-nan được thỏa (8).

Thuyền Bát Nhã là thuyền chở phúc , dầu 9 ai ai đều được siêu sinh ;

Cửa từ bi là cửa độ người ; chốn chốn cùng nhờ ơn đức cả .

Trên đã dâng ba đấng thánh hiền .

Dưới lại thỉnh mười loài cô quả .

Tín chủ nay lễ bạc lòng thành

Mời thầy dẫn đường nhân quả .(10)

Kìa thì

Ngọc điệp kim chi

Công khanh tướng tá

Mở mang bờ cõi , lập qui mô dụng võ dụng văn ;

Khuya sớm thảo ngay , bề trung thìn lòng thìn dạ .

Nhớ thuở giang sơn thác hóa m nỗi đắng cay cảm cảnh ngậm ngùi .

Tưởng khi thảo mộc biển dời ; càng thắm thiết thương thay buồn bã .

Nọ thì :

Tướng sỹ đảm đang ,

Binh cơ gióng giả .

Dẹp nam đánh bắc , thuở sa cơ bại trận càng thương ;

Vực nước yên nhà , khi giả nghĩa (23a) liều mình xông phá .

Thoát thấy cờ sai kiếm trỏ , mây sầu tuôn đoài đoạn mơ màng .

Vẳng tai (11) nghe trống giục chiêng hồi , nước mắt chảy đôi hàng lả rả (12)

Khê sơn kia biết mấy anh hùng ;

Phong hỏa nọ thiệt nhiều tài lạ .

Cảm thay :

Hổ giáo xà thương ;

Cung tên súng xạ .

Dãy dãy không kẻ (13) hỏi tế đơm .

Sát sát có đâu (14) nhìn mồ mả .

Trong non ngoài nội , biết bao nhiêu vò vỏ tuyết sương ;

Dưới bể trên nguồn , nào xiết kể bời bời chim cá .

Ấy ai khiến trai lành gái tốt , nghĩa vợ chống bỗng phút xa quê .

Ấy ai xui kẻ bắc người nam , đạo phụ tử thải (15 )hai đường phân ngả .

Thiết thay !

Tai dịch ốm đau , cơ hàn tất tả .

Miếng ăn miếng mặc , ai là kẻ cơm sẻ áo nhường ;

Gởi gió ẩm sương , thầy nào bùa thiêng thuốc dã 16

Sa cơ phải nương mình chốn khác , gió sương lạnh lẽo thuở đông trường .

Lỡ đường nào biết gởi thân đâu , thời khí nặng hồn bay khói tỏa 17

Vểnh trông chừng chim nhạn lạc đàn ;

Buồn thấy nỗi cành mai rụng lá .

Lại thương thay !

Kẻ mắc lao tù ;

Người mang thai đọa .

Một mình than thở khi (23b) lâm hình ai kẻ viếng thăm ;

Nhiều nỗi oan gia , cơn sản nạn người nào khan quá .

Ngậm ngùi kìa trước chẳng khéo tu ;

Thương tiếc nọ sau vụng hóa

Lại thương thay!

Khách vãng (18 ) giang hồ ,

Người bôn thủy bộ .

Thuyền nước sóng cả , vậy cho nên mặt nước lênh đênh ;

Của trọng người khinh , nghĩ cho phải quê người nấn ná .

Ắt là sinh lỗi phận lổi thì ;

Hay là phải lầm đường lầm sá .

Hởi ôi !

Xướng hát mọi loài ;

Ngao du mấy ả (19)

Đường hòe dặm liễu , mảng (20) vui chơi nào biết sự cửa nhà ;

Học bạn tìm thầy , chưa ngộ được đã say miền sơn dã ;

Ấy ai xui (21) trở chốn âm cung .

Hay là đã lên đường vân giá .

Rày nhân

Thiết lập trai diên ;

Đặt bày tài mã .

Sơn lâm thủy bộ , khắp đâu đâu dầu trẻ dầu già (22)

Âm giới dương gian , hết chốn chốn người quen kẻ lạ ;

Bơ vơ góc bể ven trời .

Phảng phất đầu thành cuối chợ .

Các mọi loài đẳng chúng cô hồn ;

Kịp nhất thiết chi đồ ác bộ .

Nay thời

Gài ở bên hữu

Trai ở bên tả .

Cháo gạo (23) dù có ít nhiều

Ăn uống đều cùng thong thả .

Trong kinh có câu biến (24a) thiểu thành đa ;

Các mọi loài chúng sinh đều cùng bão mãn( 24 )

Chẳng được cậy lớn mà tranh bé , nữa lại còn mắc chữ tham sân ‘

Đã quy y cải dữ làm lành , thì xá ở thìn lòng thìn dạ (25)

Tìm về đất Bụt nghỉ ngơi ;

Vâng hộ chư nhân khang thái (26)

Trước đã răn giải thoát mọi lời ;

Sau lại bảo Tâm kinh Bát Nhã (27)

Hộ trì tín chủ bình an , gia môn hưng thịnh (28)

Cẩn cáo .

_______________________________________________

 Ghi chú :

1:Theo tạp chí Văn Học số 2 năm 1977 ,   2: phần chú thích có thể tham khảo bài của Hoàng Xuân Hãn . Tác giả bài viết chú thich rất cẩn thận , chúng tôi cũng xin thừa kế nhiều công trình này .   3 : Đoạn này từ hai bản A và B đều không có .   4 : Khảo dị : bản A Kinh nghe rằng .   5 : Kd bản A có mệnh .  6 : Kd bản B tùy .   7 : Kd bản A bản B chết .8 : Kd bản A Đội ơn Đại sĩ được ăn , Nhờ đức A-nan lại thỏa . Bản B thì cho câu này xuống dưới một vế ( cảm ơn Đại sĩ hiện thân , nhờ đức A-nan khai hóa )   9 : Kd bản A không có chữ Dầu . Bản B cả câu là Ai có duyên tấn tốc yêu nghênh , cửa từ bi là cửa độ sinh , bực thượng thiện tinh linh thân .   10: Kd Bản A phủ giám lai lâm đàn hạ . Bản B Tiềm hinh giám quang lâm đàn hạ .  11: Kd Bản A có chữ Tai .   12:  Kd Bản A thiếu hai dòng .   13 : Kd Bản A  ai .    14 : Kd Bản A ai .   15 : Kd  Bản A không có từ này .   16: Kd Bản A có mấy từ khác như Miếng ăn manh mặc , ai là người nhường cơm sẻ áo , nhường gối đất nằm sương , thầy nào cứu bùa thiêng thuốc dã .    17 : Kd Bản A Thời khí nặng nề như khói tỏa .    18 : Kd Bản HXH phiên là trú .     19 : Kd Bản A gã .    20 : Kd Bản A mãi .     21 : Kd Bản A hãy còn .    22 : Kd Bản A lũ trẻ lũ già .   23 : Kd Bản A cơm .   24 : Kd Bản A tụng chân ngôn ít biến nhiều nên ; niệm bí chú không mà có cả.     25 : Kd Bản A thì xá ở cho lòng hi xả . Bản B đã qui y cải dữ về lành , nên hỷ hả tu nhẫn chứng quả .   26: Bản A câu này đặt dưới một vế , vâng hộ mọi nhà hỉ hả .   27 : Kd Bản B trước đã nhờ giải thoát oan khiên , sau tiep62 dẫn lên thuyền Bát Nhã .    28 : Kd Bản A Phúc đẳng hà sa , khương lưu ròng rã .

 

Đăng Tin by

Filed under: Nghiên Cứu, Đồng Dưỡng · Tags: , ,

Leave a Reply

*


*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>

phu nu, tin game, game moi, yeu game, game, tin game, suc khoe, kenh game, cay game, tin game hay, game8, bao game, dai ca game, game thu, phu nu chung minh, kho game, the gioi game, tin tuc, suc khoe hang ngay, game thoi trang, game dua xe, game ban sung, doc tin tuc, game hay, choi game