Articles Comments

Văn Hóa Phật Giáo Tạp Chí Blog » Giáo Dục, Phan Minh Đức » Nghĩ về KỸ NĂNG SỐNG

Nghĩ về KỸ NĂNG SỐNG

PHAN MINH ĐỨC | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo 120

nghi-ve-ky-nang-song“Kỹ năng sống” không phải là một khái niệm mới mẻ. Từ lâu ở các nước Âu, Mỹ đã có nhiều chương trình dạy  về kỹ năng sống. Ở nước ta, khái niệm này vẫn còn xa lạ, và vấn đề dạy kỹ năng sống chỉ mới bắt đầu được quan tâm khi tình trạng văn hóa, đạo đức của thanh thiếu niên sa sút trầm trọng đến mức báo động và tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng.

Tổ chức Giáo dục , Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc( UNESCO) đã đưa ra khái niệm về kỹ năng sống như là: “…năng lực cá nhân dùng để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”. Tổ chức Y tế Thế giới( WHO) lại nêu một khái niệm khác có vẻ cụ thể hơn : ” Kỹ năng sống là  kỹ năng về giao tiếp để tương tác hiệu quả với người khác, là khả năng thích nghi và  và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, tình huống trong cuộc sống bằng những hành vi tích cực”. Còn theo Qũy Nhi đồng Liên Hiệp Quốc(  UNICEF) thì kỹ năng sống bao gồm kỹ năng nhận biết để sống với chính mình và kỹ năng nhận biết để sống với người khác.

Kỹ năng sống liên quan đến tri thức, đạo đức, phẩm chất tâm lý, và kinh nghiệm của từng cá nhân , được thể hiện bằng những hành vi giúp cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, tình huống, những yêu cầu và thách thức của cuộc sống, giúp cá nhân vận dụng kiến thức vào thực tế, biến nhận thức hiểu biết thành hành động cụ thể thiết thực một cách hiệu quả, tích cực.Thật ra ở Việt Nam cũng như các nước có truyền thống Á Đông khác, từ xưa đã có các khái niệm ” Nghệ thuật sống”, “ Nghệ thuật giao tiếp ứng xử”, ” Thuật đối nhân xử thế”,  ” Thuật đắc nhân tâm”v.v. Tuy từ ngữ, cách nói có khác nhau nhưng nội dung bao hàm những kỹ năng sống. Những kỹ năng sống này phần lớn dựa trên nền tảng đạo đức và kinh nghiệm giúp con người phát triển tư duy, nhận thức,  trau dồi nhân cách, phẩm chất đạo đức, có kinh nghiệm trong quan hệ giao tiếp ứng xử, có khả năng đối phó với các tình huống trong cuộc sống. Người xưa cũng đã biết lồng ghép những giá trị sống,  kỹ năng sống vào chương trình giáo dục, vào nội dung bài học. Ở đây,  chúng ta không bàn về những hạn chế hay những chỗ thiếu sót, không còn phù hợp của phương pháp giáo dục và nội dung giáo dục của người xưa; vì tất nhiên, mỗi thời đại, con người có những kỹ năng sống khác nhau phù hợp với từng hoàn cảnh xã hội.

Trong thơ văn, trong kho tàng ca dao tục ngữ, trong các sách giáo khoa thư ngày xưa, những lời dạy, những bài học vỡ lòng đều nhằm mục đích giáo dục văn hóa, đạo đức, kinh nghiệm sống cho học sinh, cho người đọc. Về chủ đề gia đình, sách vở xưa đã chú trọng dạy con người về lòng biết ơn, lòng hiếu thảo, bổn phận làm con, cách ứng xử với ông bà cha mẹ, anh chị em, ví dụ như những câu:
” Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
“Mẹ già ở túp nều tranh, sớm thăm tối viếng mới đành dạ con”
” Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi, giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già”,
“Thức khuya dậy sớm cho cần, quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con”,
” Làm con phải biết phận con, mến yêu cung kính mới tròn thảo ngay.
Việc làm nặng nhẹ đỡ tay, khi sai khi bảo mặt mày hân hoan,
Lời thưa tiếng nói dịu dàng, cứng đầu cứng cổ dọc ngang thì đừng”

…Dạy anh chị em trong gia đình cư xử với nhau cho phải đạo:
” Một giọt máu đào hơn ao nước lã”,
” Anh em như thể tay chân, bọc đùm lành rách, đỡ đần dở hay”,
” Kính trên nhường dưới”,
” Chị ngã em nâng”v.v.,

Về chủ đề nhà trường, đối với các bậc mô phạm, các nhà giáo dục, học sinh được dạy rằng:
” Trọng thầy mới được làm thầy”,” Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”,” Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu kính thầy”,” Nào là những kẻ học trò, phải lo thầy dạy mà lo sửa mình”,” Tiên học lễ, hậu học văn”v.v Sách cổ cũng không quên những lời dạy khuyên về học tập, rèn luyện, trau giồi:
” Học như áo gấm thêu hoa , có văn có chất mới ra con người”, ” Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học”,” Học ăn, học nói, học gói, học mở”,” Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”,” Có chí thì nên”,” Có công mài sắt, có ngày nên kim”,’ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”…;

Hhay những lời dạy về cách giao tiếp ứng xử, đối nhân xử thế: ” Kính trên, nhường dưới”, ” Đi đến nơi, về đến chốn”,” Đi thưa về trình”,” Gọi dạ, bảo vâng”,” Ăn coi nồi, ngồi coi hướng”,” Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”,” Nói lời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay”,” Nói chín thì phải làm mười, nói mười làm chín kẻ cười người chê”,” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”,” No mất ngon, giận mất khôn”,” Thấy người hoạn nạn thì thương, thấy người tàn tật lại càng trông nom. Thấy người già yếu ốm mòn, thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần…..” Dạy về đạo đức, thái độ sống, cách sống ở đời:” Giấy rách phải giữ lấy lề”,” Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”,” Đói cho sạch,rách cho thơm”,” Một lời nói dối, sám hối bảy ngày”,’” Càng gian càng giảo ở đời, lại càng khốn đốn nhiều tai ưu sầu. Dù cho giầu có đến đâu, cũng như nước dốc qua hầu tràn đi”v.v.

Sách Luân Lý Khoa thư lớp Đông Ấu ngày xưa gồm có ba phần: Phần thứ nhất nói về bổn phận của đứa trẻ trong gia đình, phần thứ hai nói về bổn phận của đứa trẻ ở nhà trường, phần thứ ba nói về cách giao tiếp ứng xử, nêu ra những tính tốt mà đứa trẻ cần nên học tập, rèn luyện, trau giồi và những tính xấu  mà đứa trẻ cần phải tránh. Hầu hết các bài học đều có đưa ra những trường hợp điển hình, những câu chuyện mang tình huống ứng xử minh họa cho bài học. Xin nêu một số bài tiêu biểu:
1. Kính trọng cha mẹ;
2. Yêu mến cha mẹ;
3.Vâng lời cha mẹ;
4.Biết ơn cha mẹ;
5.Giúp đỡ cha mẹ;
6.Phải thật thà với cha mẹ;
7. Anh em như thể tay chân;
8.Đối với ông bà;
9.Người quen thuộc với nhà mình;
10.Một nhà sum họp;
11.Một nhà hòa hợp;
12. Trường học;
13.Phải yêu mến thầy;
14.Phải tôn kính thầy;
15. Phải vâng lời thầy;
16.Phải bết ơn thầy;
17.Phải thật thà với thầy;
18.Chuyên cần;
19.Đi học phải đúng giờ;
20.Lòng tốt đối với bạn;
21.Bênh vực kẻ yếu;
22.Giúp đỡ lẫn nhau;
23.Nghĩa hợp quần;
24.Chọn bạn mà chơi;
25.Phải sạch sẽ;
26.Có thứ tự;
27.Phải làm việc;
28.Phải chăm học;
29.Không có ý tà;
30.Tính ương ngạnh;
31.Tính khoe khoang và hợm mình;
32.Tính nói dối;
33.Tính nói xấu;
34.Tính mách lẻo;
35.Tính gen tỵ;
36. Tính tức giận;
37.Tính hung bạo;…

Truyền thống văn hóa, đạo đức của người Việt Nam đã có từ lâu đời, nhưng trong thời đại mở cửa và trong thời đại hội nhập, chúng ta mải lo phát triển kinh tế, mải lo làm giàu mà quên đi  việc phát huy những giá trị tinh thần vốn là nền tảng vững bền cho xã hội. Con em chúng ta chỉ học vẹt qua loa  về những giá trị văn hóa, đạo đức, những kỹ năng sống mà thiếu vận dụng thực tế. Chúng ta không nghĩ rằng, không ai yêu quê hương đất nước của mình nếu như họ không yêu gia đình mình,là nơi họ sinh ra,nếu như họ không có lòng biết ơn đối với những người đã tạo ra mình là ông bà cha mẹ,những người đã dạy mình nên người là thầy,cô giáo. Không biết yêu những người thân của mình thì làm sao yêu tha nhân,nhân loại ; Không có tình yêu con người,đối với quê hương, đất nước thì làm gì biết phục vụ,hy sinh,cống hiến.Nếu ai cũng biết chỉ sống vì mình, sống ích kỷ thì xã hội sẽ ra sao? Đó là lý do tại sao nói những giá trị văn hóa, đạo đức là nền tảng vững bền của xã hội.

Hiện nay xã hội đang quan tâm đến việc giáo dục những giá trị sống và kỹ năng sống cho giới trẻ cũng chính là tìm lại những giá trị văn hóa,đạo đức vốn có mà từ lâu bị quên lãng.

Có nhận thức tốt về các giá trị sống, sống có mục đích, lý tưởng ,có khả năng xây dựng đời sống cá nhân,xây dựng đời sống xã hội mới thật sự là người hữu ích, làm cho phẩm chất cuộc sống mỗi ngày được nâng cao, xã hội ngày càng phát triển.

Đăng Tin by

Filed under: Giáo Dục, Phan Minh Đức · Tags:

Leave a Reply

*


*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>